Trần Hưng Đạo anh hùng dân tộc Việt Nam

14 danh nhân, anh hùng dân tộc Việt Nam

Việt Nam nước ta vốn là đất nước “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh rất nhiều những người con ưu tú, những bậc hào kiệt làm rạng danh lịch sử nước nhà. Những công lao to lớn của những bậc anh hùng hào kiệt vẫn được lưu truyền trong sử sách cho hậu thế tiếp tục noi theo và học tập. Theo công văn số 2296/BVHTTDL-MTNATL, ngày 21/6/2013, Bộ Văn Hóa – Thể Thao và Du Lịch Việt Nam đã chọn ra danh sách 14 vị danh nhân, anh hùng dân tộc Việt Nam tiêu biểu qua các thời đại. 

Theo đó, 14 vị danh nhân, anh hùng dân tộc Việt Nam tiêu biểu phải đáp ứng được 1 trong 3 tiêu chí sau đây:

  • Người khởi xướng, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ ngoại xâm, giành độc lập dân tộc
  • Người đứng đầu vương triều có đóng góp đặc biệt xuất sắc, lãnh đạo dân tộc giành được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
  • Nhà quân sự, chính trị, văn hóa lỗi lạc.

Ý Nghĩa Sống xin chia sẻ chi tiết về 14 danh nhân, anh hùng dân tộc Việt Nam tiêu biểu theo công văn trên.

Mục lục bài viết

1.  Quốc Tổ Hùng Vương.

Theo truyền thuyết, Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2524 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến đời thứ 18 tức là năm 258 trước công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) của tộc Âu Việt chiếm mất nước.

Truyền thuyết về Hùng Vương được ghi chép lại lần đầu tiên vào cuối đời Trần tại Hồng Bàng Thị truyện trong sách Lĩnh Nam Trích quái; sau đó được sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào Đại Việt Sử kí Toàn thư ở cuối thế kỉ XV.

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm.

Trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên có lời bàn:

Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao?

Như vậy trước 18 đời Hùng Vương thì có thượng tổ là ngài Kinh Dương Vươngthái tổ là ngài Lạc Long Quân. Nhà vua dạy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về vua tôi, tôn ti, có luân thường về cha con, vợ chồng, đây cũng là giai đoạn hình thành nên các tập tục của người Việt ta như: xăm mình khi xuống biển, nhai trầu, bánh trưng bánh dày, làm nước mắm,…

Năm 1954, Hồ Chí Minh có buổi gặp mặt với binh lính các Trung đoàn Thủ Đô, trung đoàn 36, trung đoàn Tu Vũ…, đã nói rằng: “Đền Hùng thờ các vua Hùng. Hùng Vương là người sáng lập ra nước ta, là Tổ tiên của dân tộc ta. Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ngày nay người Việt Nam ta ai ai cũng thuộc lòng câu thơ 

“Dù ai đi ngược về xuôi, 

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba”.

Ngày 10/3 hàng năm đã trở thành ngày “về nguồn”, người dân Việt Nam khắp nơi đều hướng về tổ tiên, nguồn cội. Đây cũng là dịp người dân Việt ôn lại và tiếp nối truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

2.  Hai Bà Trưng – anh hùng dân tộc chống lại giặc Đông Hán.

Hai Bà Trưng (sinh vào khoảng năm 14 – mất năm 43) là tên chỉ chung hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hai Bà Trưng vốn họ Lạc, là dòng dõi Lạc tướng ở Mê Linh. Chồng bà Thi Sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau. Khi lên ngôi, Hai Bà mới đổi sang họ Trưng.

Hai Bà Trưng được biết đến như là những thủ lĩnh khởi binh chống lại chính quyền đô hộ của Đông Hán, lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê Linh và Trưng Trắc tự phong là Nữ vương. 

Thời kì của hai Bà Trưng xen giữa thời kỳ Bắc thuộc lần 1 và Bắc thuộc lần 2 trong lịch sử Việt Nam. Đại Việt sử ký toàn thư coi Trưng Trắc là một vị vua trong lịch sử, với tên gọi Trưng Nữ vương.

Hai Bà Trưng cai trị lãnh thổ vùng Lĩnh Nam của người Việt, tương đương với bộ Giao Chỉ của nhà Hán trong ba năm,sau đó thất bại trước cuộc tấn công của Mã Viện nhà Hán.

Theo sử gia Nguyễn Nghiễm thời Lê trung hưng:

“Trưng Vương là dòng dõi bậc thần minh, nhân lòng dân oán hận, nổi giận, khích lệ người cùng chung mối thù. Nghĩa binh đi đến đâu gần xa đều hưởng ứng, 65 thành ngoài miền Ngũ Lĩnh một buổi sớm đều thu phục được, người dân chịu khổ từ lâu, không khác gì đã ra khỏi vực thẳm được thấy mặt trời. Bà quả là bậc anh hùng khí khái hơn người. Tuy rằng quân mới tập hợp, bị tan rã khi đã thành công, cũng làm hả được lòng căm phẫn của thần dân một chút… Khi đất nước bị chìm đắm, thì hầu như lại được khôi phục do một nữ chúa ở Mê Linh. Lúc đó bậc con trai mày râu phải cúi đầu ngoan ngoãn tuân theo không dám làm gì, chẳng đáng thẹn lắm sao?”.

Qua đó cho chúng ta thấy tài trí xuất chúng của hai Bà Trưng, đặc biệt là bà Trưng Trắc (tức Trưng Nữ vương) có công lao to lớn với nhân dân ta lắm.

3.  Vua Lý Nam Đế – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Lương, quân Lâm Ấp.

Lý Nam Đế (503 – 548), húy là Lý Bí hoặc Lý Bôn, là vị vua đầu tiên của nhà Tiền Lý và thành lập ra nước Vạn Xuân. 

Nước Vạn Xuân ra đời vào tháng giêng, năm 544 sau khi Lý Nam Đế đã lãnh đạo nhân dân ta đánh lui được cuộc phản công của quân nhà Lương và quân Lâm Ấp.

Khâm định Việt sử thông giám cương mục nhận xét:

“Nam Đế nhà Lý dù không địch nổi quân Lương, việc lớn tuy không thành nhưng đã biết nhân thời cơ mà vùng dậy, tự làm chủ nước mình, đủ để tạo thanh thế và mở đường cho nhà Đinh, nhà Lý sau này. Việc làm của Lý Nam Đế há chẳng phải là hay lắm đó sao!”

Như vậy, vua Lý Nam Đế không những là vị vua mà còn là anh hùng dân tộc đã khai sáng tư tưởng và dẫn dắt dân ta đến với con đường tự chủ dân tộc.

Dân ta từ đó mà càng tăng thêm nhận thức về tinh thần yêu nước, và ý chí đấu tranh quật khởi để bảo toàn nền độc lập cho quốc gia.

4.  Vua Ngô Quyền – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Nam Hán.

Ngô Quyền - vị tổ trung hưng của dân tộc Việt Nam.
Ngô Quyền – vị tổ trung hưng của dân tộc Việt Nam.

Ngô Quyền (898 – 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. 

Năm 938, Ngô Quyền là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng lừng danh thiên cổ, chính thức kết thúc gần một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. 

Sau chiến thắng này, Ngô Quyền lên ngôi vua, lập ra nhà Ngô, trị vì từ năm 939 đến năm 944. Phan Bội Châu xem ông là vị Tổ Trung hưng của Việt Nam.

Ngô Thì Sĩ nhận định trong sách Việt sử tiêu án:

“Lưu Nghiễm ngấp ngó Giao Châu, thừa lúc Đình Nghệ mới mất, cậy có quân ứng viện của Công Tiễn, chắc rằng có thể đánh một trận phá được Ngô Quyền, nhân thế lấy được nước Nam dễ như lấy đồ trong túi vậy. Nếu không có một trận đánh to để hỏa nhuệ khí của Lưu Nghiễm, thì cái tình hình ngoại thuộc lại dần dần thịnh lên, cho nên trận đánh ở Bạch Đằng là cái căn bản khôi phục quốc thống đó. Sau này Đinh, Lê, Lý, Trần còn phải nhờ dư liệt ấy. Võ công hiển hách của Ngô Quyền, tiếng thơm nghìn đời, đâu có phải chỉ khoe khoang một lúc bấy giờ mà thôi.”

Nhờ vị tổ trung hưng Ngô Quyền mà nước Việt ta từ đó, hiển hách chiến công, thỏa chí anh hùng, khẳng định nền thịnh trị của dân tộc Việt. 

Sau này, qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhân dân ta vẫn noi theo khí phách và trí tuệ của anh hùng dân tộc Ngô Quyền để dành thắng lợi trên các trận đánh, đặc biệt là thủy chiến.

5.  Vua Đinh Bộ Lĩnh – anh hùng dân tộc dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, vị hoàng đế đầu tiên của sử Việt.

Đinh Bộ Lĩnh ( 924 –  979), còn gọi là Đinh Tiên Hoàng, là vị hoàng đế sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam. 

Đinh Bộ Lĩnh là người có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau thời Bắc thuộc.

Đại Cồ Việt là nhà nước mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ, xây dựng chế độ quân chủ tập quyền ở Việt Nam. Đinh BộLĩnh làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi.

Nhà sử học Lê Văn Hưu nhận xét:

“Tiên Hoàng nhờ có tài năng sáng suốt hơn người, dũng cảm mưu lược nhất đời, đương lúc nước Việt ta không có chủ, các hùng trưởng cát cứ, một phen cất quân mà mười hai sứ phục hết. Vua mở nước dựng đô, đổi xưng Hoàng Đế, đặt trăm quan, lập sáu quân, chế độ gần đầy đủ, có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết…”

Đinh Bộ Lĩnh là vị vua, vị anh hùng dân tộc đã kế thừa tinh thần tự chủ của các bậc tiền bối. 

Đinh Bộ Lĩnh đã nâng tầm vị thế của nước Việt khi ông đã làm rạng danh lịch sử, trở thành vị hoàng đế đầu tiên của Việt Nam.

6.  Vua Lê Hoàn – anh hùng dân tộc đánh Tống, bình Chiêm.

Lê Hoàn (941 – 1005) là vị Hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê nước Đại Cồ Việt, trị vì nước Đại Cồ Việt trong 24 năm. Ông có công lãnh đạo nước ta “đánh Tống, bình Chiêm”.

Khi còn thiếu thời ông làm quan cho nhà Đinh dưới thời Đinh Tiên Hoàng, đến chức Thập đạo tướng quân. Khi Đinh Tiên Hoàng mất, con trai là Đinh Toàn nối ngôi lúc 6 tuổi, Lê Đại Hành làm Nhiếp chính, xưng là Phó vương, nắm đại quyền triều đình.

Trước tình thế quân Tống sang xâm lược nước ta, Đại tướng quân Phạm Cự Lạng đem binh sĩ vào cung làm binh biến, buộc Thái hậu họ Dương (tức mẹ Đinh Toàn) trao long cổn cho Phó vương Lê Hoàn. 

Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn tự mình làm tướng đánh tan quân Tống, chém tướng Hầu Nhân Bảo, bắt sống tướng Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư, giúp cho Đại Cồ Việt thanh bình, bảo toàn được nền độc lập của đất nước.

Từ khi lập nước, Chiêm Thành liên tục tiến hành các hoạt động quân sự để xâm lược Đại Cồ Việt. Giai đoạn từ năm 982 – 997, Lê Hoàn cho quân đánh đuổi các cuộc đánh phá của quân Chiêm Thành.

Vua Lê Hoàn còn là nhạc phụ của vua Lý Thái Tổ, ông ngoại của vua Lý Thái Tông.

7.  Vua Lý Công Uẩn – anh hùng dân tộc đánh dẹp các thế lực phiến quân, là nhà văn hóa lớn mang kinh Địa Tạng của Phật Giáo vào Việt Nam.

Lý Công Uẩn (974-1028) còn gọi là Lý Thái Tổ là vị hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028. 

Lý Công Uẩn có công củng cố triều đình trung ương, chăm lo phát triển kinh tế cho đất nước. 

Ông đã lãnh đạo các cuộc chinh phạt đánh dẹp các thế lực phiến quân, dời kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La vào năm 1010. Thành Đại La sau này được đổi tên thành Thăng Long, mở đầu cho sự phát triển lâu dài của nhà Lý tồn tại 216 năm.

Lý Thái Tổ vì được dạy dỗ trong chùa từ nhỏ, nên sau khi lên ngôi rất hậu đãi giới tăng lữ. Vào năm 1010, sau khi đã dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, việc đầu tiên ông làm là liền xuất ra 2 vạn quan để làm chùa ở phủ Thiên Đức (tức Cổ Pháp).

Năm 1010 Dương lịch, Lý Thái Tổ sai sứ sang nước Tống để thỉnh kinh điển Phật giáo. Tống Chân Tông chấp thuận, trao cho vua Lý kinh Địa Tạng cùng với chữ ngự bút do chính tay vua Tống viết.

Lời của sử thần chép trong sách Việt sử tiêu án:

“Vua Lý Thái Tổ sinh trưởng nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, Vạn Hạnh dạy dỗ, thuyết nhân quả ăn sâu ở trong lòng, cho nên khi mới kiến quốc, đã sáng tạo nhiều chùa, cấp điện độ tăng chúng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật, bất luận hiền ngu muốn cho qui Phật, đến đời sau Nhà Lý mới khởi lên ngôi chùa cao sát mây, lập nên cột chùa bằng đá cao vót, lấy sự thờ Phật làm việc thường phải có của một nước (lập hơn 300 ngôi chùa, đúc quả chuông nặng đến một vạn hai nghìn cân đồng).”

8.  Lý Thường Kiệt – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Tống, chinh phạt Chiêm Thành.

Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông làm quan qua 3 triều Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn, khiến ông trở thành danh tướng vĩ đại của nhà Lý. Lý Thường Kiệt đã kinh qua các chức danh: Thiên tử nghĩa đệ, khai quốc công, Đô Úy, thái úy.

Trong lịch sử Việt Nam, ông nổi bật với việc chinh phạt Chiêm Thành (1069). Ông còn nổi tiếng với việc lãnh đạo của chinh phạt đánh phá 3 châu Khâm, Ung, Liêm của nước Tống (1075–1076), rồi đánh bại cuộc xâm lược Đại Việt của quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy. 

Đặc biệt, trận chiến ở ba châu Khâm, Ung, Liêm đã khiến tên tuổi của Lý Thường Kiệt vang dội ra khỏi Đại Việt và được biết đến ở đất Tống.

Trong Bài bia ký chùa Báo Ân núi An Hoạch, Chu Văn Thường – một quan chức ở quận Cửu Chân, trấn Thanh Hóa đời Lý Nhân Tông ca ngợi Lý Thường Kiệt:

“Nay có Thái úy Lý công, giúp vua thứ tư triều Lý… Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà Hán có công huân Hàn, Bành, nước Tề có sự nghiệp Quản, Án. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh nhiều năm. Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy.”

9.  Vua Trần Nhân Tông – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Nguyên Mông, nhà văn hóa lớn với vai trò Phật Hoàng, sáng lập thiền phái Trúc Lâm.

Trần Nhân Tông (1258 – 1308) tên khai sinh là Trần Khâm, tự là Thanh Phúc, là vị hoàng đế thứ ba của nhà Trần nước Đại Việt. 

Ông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời. 

Trần Nhân Tông được sử Việt đánh giá là một vị Hoàng đế anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập trước quân Nguyên Mông và mở rộng lãnh thổ đất nước. 

Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại. Ông còn là nhà sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế.

Sách Việt sử tiêu án có ghi lại lời bàn của sử thần về cách lãnh đạo của Trần Nhân Tông:

“Mỗi lần có tin báo quân Nguyên sang cướp, thì tất là Vua thân hành ra ngoài trông coi quân, khi đi đông, đi tây, không đi nhất định đường nào, khi ở trên bộ, khi ở thủy không đóng nhất định ở đâu, đó không phải là rát, là vì Vua ở bên ngoài, thì dễ hiệu triệu thiên hạ. Cổ lệ lòng hăng hái của quân sĩ, chư tướng thì tiện việc tâu xin mệnh lệnh, tam quân thì vui lòng xông pha, lính tráng đều là quân của nước, của nhà giàu là của nước, có cơ hội nào thì cổ động quân sĩ xông vào trước, gặp tình thế không may thì tùy tiện mà chống giữ; khi tiến quân thì nhanh như chớp nhoáng, khi lui về thì như rồng rắn ẩn thân, giặc không biết đâu mà lường đạc được, nếu chỉ nấp giữ ở trong thành, thì địch coi đó là sào huyệt, chúng sẽ chặn đường không cho vận lương đến, và giữ viện binh không vào được, đến nỗi lương hết, lực cùng, chả nguy lắm sao. Có tin giặc đến mà Vua lập tức đi ra ngoài, đó là kỳ kế, liệu sức giặc và tính cách đánh của nhà Trần.”

10. Trần Hưng Đạo – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Nguyên Mông.

Câu nói Trần Hưng Đạo
Trần Hưng Đạo nói về phép dụng binh.

Trần Hưng Đạo (1231 – 1300), tên thật là Trần Quốc Tuấn, tước hiệu Hưng Đạo đại vương, là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. 

Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan hai cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1285 và năm 1288. 

Năm 1257, Trần Quốc Tuấn được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. 

Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, nhà Nguyên (sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa) đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Trần Quốc Tuấn được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông (lần lượt là em họ và cháu họ ông) phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. 

Trên cương vị này, năm 1285, Trần Hưng Đạo đã lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược do hoàng tử thứ chín Thoát Hoan. 

Sau những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Trần Hưng Đạo đã phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp,… đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới. 

Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việt lần thứ ba. Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Trần Hưng Đạo khẳng định với vua Trần Nhân Tông: “Năm nay đánh giặc nhàn”. Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước và vĩnh viễn từ bỏ tham vọng thôn tính phương Nam của họ. Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm “Đại vương”. 

Có thể nói tư tưởng quán xuyến suốt đời của Trần Hưng Đạo, là một tấm lòng tận tụy đối với đất nước, là ý muốn đoàn kết mọi tầng lớp trong dân tộc thành một lực lượng thống nhất, là tinh thần yêu thương dân. 

Trước khi mất, Trần Hưng Đạo dặn vua Trần Anh Tông rằng: “Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” cho sự nghiệp lâu dài của nước nhà.

Trần Hưng Đạo còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến ngày nay.

11. Vua Lê Lợi – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Minh.

Lê Lợi (khoảng những năm 1385– 1433), còn gọi là Lê Thái Tổ, là một nhà chính trị, nhà lãnh đạo quân sự kiệt xuất của nước Việt.

Lê Lợi đã thành lập một đội quân người Việt và lãnh đạo đội quân này chiến đấu chống lại sự chiếm đóng của quân đội nhà Minh từ năm 1418 đến lúc đánh đuổi hoàn toàn quân Minh ra khỏi Đại Việt vào năm 1428. Sau đó ông đã lãnh đạo công cuộc xây dựng và tái thiết lại đất nước. 

Lê Lợi là vị vua có công đánh đuổi quân Minh, chấm dứt 20 năm Bắc thuộc lần thứ tư và sáng lập hoàng triều Lê, triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Việt Nam.

Ông cũng thành công với các chiến dịch quân sự đánh dẹp các tù trưởng ở biên giới phía Bắc Đại Việt và quân đội Ai Lao. 

Lê Lợi được coi là anh hùng, vị Hoàng đế huyền thoại của Đại Việt với tài năng quân sự, khả năng cai trị và lòng nhân ái đối với nhân dân, cũng như những chính sách phát triển kinh tế cho đất nước.

Về cai trị, Lê Lợi cũng là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ quân chủ các triều đại Lý, Trần trước đây mà các thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.

Ông được các sử gia đánh giá cao ở tài năng chính trị, quân sự, kinh tế, là một trong hai vị thánh trung hưng của dân tộc.

12. Nguyễn Trãi – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Minh, danh nhân văn hóa thế giới.

Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu là c Trai, là một nhà chính trị, nhà văn, nhà thơ, người đã tham gia tích cực Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại sự xâm lược của nhà Minh (Trung Quốc) với Đại Việt. 

Khi cuộc khởi nghĩa thành công vào năm 1428, Nguyễn Trãi trở thành khai quốc công thần của triều đại quân chủ nhà Hậu Lê trong Lịch sử Việt Nam. 

Nguyễn Trãi được UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hóa thế giới”.

Năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1465, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu ân xá cho ông. 

Ông là một nhà văn hóa lớn, có đóng góp to lớn vào sự phát triển của văn học và tư tưởng Việt Nam.

Nét nổi bật trong tư tưởng Nguyễn Trãi là sự hòa quyện, chắt lọc giữa tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo (trong đó Nho giáo đóng vai trò chủ yếu), có sự kết hợp chặt chẽ với hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam lúc đó.

Sau sự kiện Lệ Chi Viên, các tác phẩm của Nguyễn Trãi bị mất mát rất nhiều, một số tác phẩm còn được lưu truyền đến ngày nay như: Bình Ngô Đại Cáo, Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục,…

Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Thánh Tông chú thích rằng:

“Ức Trai tiên sinh, đương lúc Thái Tổ mới sáng nghiệp theo về Lỗi Giang, trong thì bàn kế hoạch nơi màn trướng, ngoài thì thảo văn thư dụ các thành; văn chương tiên sinh làm vẻ vang cho nước, lại được vua yêu tin quí trọng.

Ở thế kỷ XX, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá:

“Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị ngoại giao “mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu”; võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh ít địch nhiều… thắng hung tàn bằng đại nghĩa”; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao… Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt trong lịch sử nước ta.

13. Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Thanh, giặc Xiêm, ông còn là nhà cải cách văn hóa.

Quang Trung Hoàng đế (1753 – 1792), miếu hiệu Tây Sơn Thái Tổ (được dùng để phân biệt với Nguyễn Thái Tổ nhà Nguyễn). Ông còn có danh xưng khác là Bắc Bình Vương, tên khai sinh là Hồ Thơm, sau đổi tên thành Nguyễn Huệ, Nguyễn Quang Bình.

Nguyễn Huệ là một nhà chính trị, nhà quân sự người Việt Nam, vị hoàng đế thứ 2 của Nhà Tây Sơn, sau khi Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc thoái vị và nhường ngôi cho ông. 

Nguyễn Huệ và 2 người anh em của ông (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ), được biết đến với tên gọi Tây Sơn tam kiệt. Họ là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và Nguyễn ở phía nam, lật đổ hai tập đoàn này cùng Nhà Hậu Lê, chấm dứt tình trạng phân biệt Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài suốt 2 thế kỷ. 

Ngoài ra, Nguyễn Huệ còn là người đánh bại các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La từ phía nam, của Đại Thanh từ phía bắc. Bản thân ông đã cầm quân chiến đấu từ năm 18 tuổi, trong 20 năm liền đã trải qua hàng chục trận đánh lớn, và chưa thua một trận nào.

Sau 20 năm liên tục chinh chiến và 3 năm trị nước, khi tình hình đất nước bắt đầu có chuyển biến tốt thì Nguyễn Huệ đột ngột qua đời ở tuổi 39.

Nhà sử học Phan Huy Lê đã đánh giá “Quang Trung không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một nhà chính trị có biệt tài.” Với nhãn quan tiến bộ, chỉ trong 3 năm, vua Quang Trung đã liên tiếp đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ trong kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự,… nhằm xây dựng đất nước và tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại từ phương Tây.

Về nhân sự, vua Quang Trung đã xuống chiếu cầu hiền và trọng dụng nhiều nhân tài như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiệp, Nguyễn Huy Lượng,… 

Về quân sự, vua Quang Trung cho xây dựng quân đội trang bị hiện đại. 

Về kinh tế, ông cải cách chế độ đinh điền và ruộng đất, khuyến khích thủ công nghiệp, mở rộng ngoại thương với phương Tây. 

Về giáo dục, ông cải tiến thi cử theo hướng thiết thực và ban hành chính sách khuyến học, khuyến khích dùng chữ Nôm thuần Việt thay cho chữ Hán, sắp xếp lại chùa chiền dư thừa và bài trừ mê tín dị đoan. 

Giới sử học đánh giá rất cao những cải cách này của vua Quang Trung bởi chúng mang xu hướng rất tiến bộ và vượt trên các nước châu Á đương thời, có thể đưa đất nước thoát khỏi sự trì trệ đã kéo dài trên 100 năm của chế độ phong kiến thời Trịnh – Nguyễn. 

14. Chủ Tịch Hồ Chí Minh – anh hùng dân tộc đánh đuổi giặc Pháp, Mỹ, ông còn là nhà giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn hóa lớn trong lịch sử.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và câu nói bất hủ
Chủ tịch Hồ Chí Minh và câu nói bất hủ.

Hồ Chí Minh (1890 – 1969), tên khai sinh Nguyễn Sinh Cung, là một nhà cách mạng và chính khách người Việt Nam. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, từng là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà từ 1945–1969, thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong những năm 1945–1955, tổng bí thư ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từ 1956–1960, chủ tịch ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1951 cho đến khi qua đời.

Trong quãng thời gian sinh sống và hoạt động trước khi lên nắm quyền, ông đã đi qua nhiều quốc gia và châu lục, ông được cho là đã sử dụng 50 đến 200 bí danh khác nhau, thành thạo nhiều ngôn ngữ.

Về mặt tư tưởng chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa Marx – Lenin. Ông là nhà lãnh đạo phong trào độc lập Việt Minh tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đã soạn thảo, đọc bản Tuyên ngôn độc lập thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và trở thành Chủ tịch nước sau cuộc tổng tuyển cử năm 1946. 

Trong giai đoạn diễn ra chiến tranh Đông Dương và chiến tranh Việt Nam, ông là nhân vật chủ chốt trong hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. 

Năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chiến thắng, hai miền Việt Nam được thống nhất, dẫn đến sự ra đời của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào năm 1976. 

Thành phố Sài Gòn được đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh để tôn vinh ông cũng như sự kiện này. 

Ngoài hoạt động chính trị, chủ tịch Hồ Chí Minh còn là nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việt, tiếng Hán và tiếng Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng đến việc phát triển giáo dục. Tháng 9 năm 1945, nhân ngày khai trường, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi cho học trò Việt Nam. Trong thư có đoạn:

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.”

Bạn tham khảo Video 14 danh nhân, anh hùng dân tộc tiêu biểu của Việt Nam trên kênh YouTube Ý Nghĩa Sống tại đây nhé:

Ý Nghĩa Sống mong rằng những thông tin về 14 vị danh nhân, anh hùng dân tộc Việt Nam sẽ giúp các bạn hiểu được những giai thoại nổi bật của nước ta. Đồng thời giúp chúng ta phát huy tinh thần yêu nước, tự hào truyền thống anh hùng, khí phách kiên cường bất khuất của cha ông ta để lại.

Ý Nghĩa Sống.

Xem Thêm:

Binh Pháp Ngô Quyền – Đại thắng trên sông Bạch Đằng

Lý Thường Kiệt và 6 trận đánh đỉnh cao binh pháp

Chu Văn An | cuộc đời nhà giáo vĩ đại của Đại Việt

Chu Văn An | phong cách dạy học, chân dung “vạn thế sư biểu”

Lễ Vu Lan báo hiếu – Tại sao làm con phải có hiếu?

Youtube Ý Nghĩa Sống

Youtube Jessica Thảo Nguyễn

Tiktok Jessica Thảo Nguyễn

Fanpage Jessica Thảo Nguyễn

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top